Thursday, December 14, 2006

Dậu Ðổ Bìm Leo hay Một Nan Ðề cho Chính Sách Hoa Kỳ?

Chuyện dài Iraq: Khi dậu đổ bìm leo…,
Có những lựa chọn nào không khó khăn cho TT Bush?
Nguyễn Anh Tuấn, Dec 05, 2006

Cali Today News - Trong cuốn sách bestseller “Kế Hoạch Tấn Công” (Plan of Attack) phát hành vào mùa hè năm 2004 của nhà báo Bob Woodward thuật lại khá tỉ mỉ những diễn biến liên quan đến quyết định tấn công Iraq của chính quyền Bush, có một đoạn kể lại chuyện ăn mừng của những chính trị gia bảo thủ tại tư dinh của Phó tổng thống Dick Cheney liền sau khi những tuần lễ đầu của cuộc chiến đem lại thành công mỹ mãn với việc tiến chiếm thủ đô Baghdad một cách thần tốc chỉ mất vài tuần lễ và giật sập bức tượng của lãnh tụ độc tài Saddam Hussein. Trong số những khách hiếm hoi được vợ chồng ông Cheney mời gồm có các ông Scooter Libby Lewis, lúc bấy giờ là đổng lý văn phòng của ông Cheney, và Kenneth Adelman, một người bạn đồng sự lâu năm và cũng từng là một viên chức cao cấp trong nội các thời TT Reagan. Khi chủ và khách cùng nhau nâng ly “Dô! Dô!” để chúc mừng cho chiến thắng vinh quang của TT Bush, ông Adelman tỏ ra xúc động mạnh, mắt rươm rướm lệ trong một nỗi vui mừng khôn tả. “Quả thật lúc đó là thời điểm lâng lâng tuyệt vời,” (euphoric moment), đó là lời ông mô tả khi hồi tưởng lại phút giây đặc biệt ấy.Ông Adelman xúc động thật sự vì ông là một trong số ít những cựu viên chức cao cấp trong chính quyền ủng hộ triệt để kế hoạch tấn công Iraq. Trong bối cảnh sửa soạn cho cuộc chiến với những lời lẽ cứng rắn có tính cách răn đe hay hăm doạ của chính quyền Bush mặc dù có sự chống đối dữ dội và gay gắt từ phía những quốc gia đồng minh trụ cột và lâu đời như Pháp và Đức, người ta chú ý nhiều đến một số các bài viết của các chính trị gia phe bảo thủ từng tham chính trong nội các trước đây. Một cựu viên chức cao cấp là ông Brent Scowcroft, từng là cố vấn an ninh quốc gia dưới thời TT Bush Bố, đã viết một bài với nội dung tỏ ý khuyên can là chớ có nên ỷ y mà lao đầu vào cuộc chiến này trước khi cân nhắc kỹ lưỡng, bằng không thì sau này sẽ lãnh đủ. Một nhân vật nổi tiếng khác là ông Henry Kissinger, cựu ngoại trưởng và cố vấn an ninh quốc gia thời TT Nixon, thì viết một bài khá dài và rắc rối khó hiểu, đúng với thói quen và phong cách của ông, vừa giảng giải vừa có tính cách cố vấn. Chỉ có ông Adelman là đã viết một bài đăng trên tờ Washington Post để ủng hộ hết mình cho giải pháp quân sự tấn công Iraq. Và ông còn cho rằng chẳng có gì phải lo ngại, với sức mạnh tuyệt luân của quân đội Hoa Kỳ lúc bấy giờ, việc tiến vào thủ đô Baghdad để lật đổ chế độ Saddam chỉ là một chuyện nhỏ và dễ dàng (a cakewalk), nghĩa đen là một điệu nhảy múa thưởng bánh của người da đen; nói theo kiểu bình dân thì việc đó dễ như “ăn cơm sườn”. Khi cuộc chiến nổ ra, hai vợ chồng ông Adelman đang đi du lịch ở Âu Châu và ông nhận được cú điện thoại hỏi thăm của ông Cheney cùng với lời cảm tạ về bài báo ủng hộ. Khi ông Cheney ngỏ ý để mời vợ chồng ông Adelman đến nhà chơi vào cuối tuần thì ông Adelman rất cảm động và vui mừng, sẵn sàng huỷ bỏ những ngày còn lại của chuyến du lịch để trở về Mỹ ngay hầu có thể đến viếng thăm ông bà Cheney cùng với những bạn đồng sự cũ. Nhưng chỉ hơn ba năm rưởi sau, tình cảm của ông Adelman đối với chính quyền Bush đã hoàn toàn thay đổi, quay ngược lại 180 độ. Cuộc tiến chiếm Baghdad tưởng như dễ dàng hôm nào giờ đây đã trở thành một cuộc trường chinh đi dần vào mê lộ hay tử địa, và không hy vọng thấy một lối thoát khả quan nào. Ông lớn tiếng chê trách việc làm bất tài của ông Rumsfeld, tuyệt giao với ông Cheney, và cho rằng “TT Bush là người chịu trách nhiệm sau cùng cho cuộc thảm bại Iraq.”Ông Adelman không phải là người đầu tiên hay người sau cùng trong những tiếng nói chỉ trích thành tích của chính quyền Bush trong cuộc chiến Iraq mặc dù đã từng ủng hộ giải pháp chiến tranh một cách tích cực từ lúc ban đầu. Có điều là ông có can đảm và liêm sỉ để nhìn nhận những sai lầm, thay vì cứ ngoan cố và lấp liếm đưa ra những luận cứ nguỵ biện như bộ ba Bush – Cheney – Rumsfeld vẫn thường làm. Ngay cả trong cộng đồng người Việt định cư tại Hoa Kỳ, thời bấy giờ đa số đều có vẻ như ủng hộ giải pháp tấn công của ông Bush, mặc dù nó thiếu căn bản pháp lý và chỉ phản ảnh đúng tư duy và hành động của một anh cao bồi hay võ biền, chỉ biết dùng sức mạnh để áp đảo kẻ yếu thế hơn thay vì tranh luận để biết thiệt hơn, phải trái rõ ràng. Có lẽ chỉ có kẻ viết báo nhà quê là tác giả bài này đã thẳng thắn trình bày và phân tích cặn kẽ vấn đề từ lúc ban đầu, vạch ra những dự tính và âm mưu sửa soạn dồn quân để tấn công của chính quyền Bush trong khi vẫn lớn tiếng cho rằng đang đeo đuổi theo đường lối ngoại giao chứ không chỉ chủ trương dùng giải pháp quân sự. Dựa theo những bài phân tích kỹ lưỡng và sâu sắc của nhiều nhà báo uy tín từ Âu sang Á, kẻ viết bài này đã tổng hợp để tường trình rằng những lời lẽ trong bài diễn văn tuyên chiến của TT Bush thiếu tính chân thật khi ông nói rằng giải pháp quân sự là lựa chọn cuối cùng mà ông phải áp dụng, trong khi trên thực tế ông chẳng bao giờ thèm đoái hoài gì đến giải pháp ngoại giao để thương lượng hay điều đình. Bởi vì lúc đó ông Bush và bộ tham mưu ở Bạch Cung đang say men chiến thắng sau thành công lớn ở chiến trường A Phú Hãn, nên muốn nhân cơ hội này để biểu dương sức mạnh tuyệt luân của đệ nhất siêu cường hầu cho mọi người phải khiếp vía nể sợ, đúng như lời đốc thúc và tâng bốc của nhiều phụ tá đầy lý tưởng hão huyền theo trường phái tân-bảo-thủ. Những diễn tiến sau đó đã minh chứng điều này một cách xác đáng, cũng như đã cho thấy là tư duy và thái độ cao ngạo của ông Bush và bộ tham mưu của ông, xem thường mọi người khác ý kiến, có lẽ bắt nguồn từ niềm tin sắt đá và mãnh liệt của ông khi cho rằng chỉ có mình mới có chính nghĩa, và chính mình đã được Thượng Đế đặt để trong chức vụ cao cả và quan trọng này để thực hiện cho bằng được một sứ mạng quan trọng là biến đổi cục diện thế giới này theo một chiều hướng thuận lợi và tốt lành hơn. Chỉ tội cho một tờ báo ở địa phương Houston là bán nguyệt san Tự Do mà kẻ viết bài này đã cộng tác lâu năm là đã phải hứng chịu một số lời chỉ trích, phê phán hay chửi bới của một số người cực đoan có tinh thần “bảo hoàng hơn vua”, vì cho rằng tác giả đã tỏ ra không có tinh thần “ái quốc” và đã quên ơn cưu mang của Hoa Kỳ. Tuy nhiên đã bước vào nghiệp viết báo là phải có can đảm nói lên sự thật, sau khi đã biết tìm hiểu cho rõ ràng và đích xác đầu đuôi câu chuyện trước khi nói đến chuyện phê bình hay phân tích. Và phải có can đảm nhìn nhận lỗi lầm hay sai trái, sơ sót của mình mà không sợ phản ứng bất lợi. Đó là một điểm son dễ nhìn thấy ở đa số các nhà báo lớn tại Hoa Kỳ này mà chúng ta phải khâm phục.Giờ đây, có lẽ TT Bush đã không còn ngạc nhiên trước nhiều lời phê bình chỉ trích về chính sách của ông, vì nó không đơn thuần đến từ phía đối lập thuộc đảng Dân Chủ. Trong quá khứ, ông bỏ mặc những lời chống đối này và chụp mũ cho những chính trị gia Dân Chủ là thành phần hèn nhát, chỉ chực bỏ cuộc mỗi khi thấy có khó khăn hay trở ngại, thích chủ trương nói đến chuyện thương thuyết với bọn gây ra tội ác thay vì phải cứng rắn dùng biện pháp mạnh để trừng trị hay trả đũa. Dư âm và hình ảnh kinh hoàng của vụ khủng bố 9/11 vẫn còn ghi đậm trong tâm khảm của đa số người dân Hoa Kỳ nên đã giúp cho kế hoạch tuyên truyền và chụp mũ tinh vi này đạt được thành công, xuyên qua kết quả của các vụ bầu cử năm 2002 và 2004, người dân Mỹ tiếp tục giao phó niềm tin nơi ông cho dù có chút hoài nghi lưỡng lự. Mặc dù đã có những bằng chứng hiển nhiên tai hại như tin tức tình báo hoàn toàn sai lạc về cái gọi là kho vũ khí tàn sát quy mô, như vụ hành hạ tra tấn tù nhân tại nhà tù Abu Ghraib, người dân Mỹ bắt đầu tỉnh ngộ dần, nhưng vẫn giành cho TT Bush cái ân huệ gọi là “benefit of the doubt”, tức là chưa có bằng chứng rõ ràng về ý đồ sai lầm thì còn tiếp tục tin tưởng, và cho rằng dẫu có sai lầm thì có thể là do lỗi của nhân viên dưới quyền chứ không phải là do sự chủ động của người chỉ huy.Thế nhưng cử tri Mỹ có ngây thơ nhưng không phải là ngu, và dẫu có bị lừa một lần đi nữa thì cũng không ngu để tiếp tục bị lừa lần thứ hai, và do đó trong cuộc bầu cử ngày 7 tháng 11 vừa qua, họ đã nói lên một cách dứt khoát và rõ ràng về nhận xét của mình đối với chính sách cầm quyền tệ hại của ông Bush. Trước đó không lâu, ngay cả nhiều vị dân cử cùng đảng Cộng Hoà cũng đã đánh hơi được sự xoay chiều của công luận khi mà tình hình tại Iraq càng ngày càng tồi tệ hơn trong khi chính quyền cứ mặc nhiên làm ngơ hay tiếp tục nói dối bằng những luận điệu lạc quan, xem thường sự hiểu biết và trình độ nhận thức của người dân. Nhiều nhân vật diều hâu có tên tuổi đã không ngần ngại nói lên sự phản tỉnh của mình, không còn mê muội tin vào một tương lai thành công như lời hứa hẹn của chính quyền Bush. Thậm chí nhiều vị dân cử Cộng Hoà, như nghị sĩ liên bang Kay Bailey Hutchison đại diện cho tiểu bang Texas, đã can đảm thú nhận rằng nếu như biết trước những tin tức tình báo sai lạc như vậy thì họ đã không bỏ phiếu chuẩn thuận cho TT Bush khai chiến tấn công Iraq. Đa số các dân biểu, nghị sĩ của phe Cộng Hoà thất cử trong kỳ bỏ phiếu vừa qua đều đổ lỗi cho ông Bush, nhất là thành tích bết bát và tệ hại trong cuộc chiến tại Iraq. Một số những nhân vật cao cấp trong hậu trường, điển hình như ông Adelman, cũng bộc lộ ra trước công luận sự bất mãn của mình.Việc nhiều người bỏ rơi ông Bush càng lộ nét hơn trong những tuần lễ trước ngày bầu cử với việc phát hành của một cuốn sách mà tác giả là David Kuo, một phụ tá trong Bạch Cung trước kia đặc trách việc phát triển các chương trình xã hội có mầu sắc và ảnh hưởng của tôn giáo (faith-based initiatives), đã chỉ trích bộ tham mưu của chính quyền Bush là đạo đức giả và chỉ biết chìu theo những đòi hỏi của khối cử tri bảo thủ giáo điều cực hữu (Christian conservatives). Cùng lúc đó, tờ tuần báo Vanity Fair cho đăng một loạt bài phỏng vấn những tên tuổi bảo thủ như Richard Perle, Ken Adelman và nhiều nhân vật tân-bảo-thủ khác công kích mạnh mẽ chính sách của TT Bush.Thật ra thì sự chống đối hay chỉ trích chính quyền Bush từ những tiếng nói trong nội bộ, vốn thường là những lời phê phán nặng nề nhất, đã bắt đầu từ khoảng hai năm nay, khởi đi từ phía các chính trị gia theo trường phái thực tiễn, thường quy tụ chung quanh ngoại trưởng Colin Powell. Khi ông Powell bị thất sủng một cách không kèn không trống để cho Bạch Cung đưa bà Rice sang thay thế hầu dễ bề kiểm soát những tiếng nói không trung thành đang tại chức tại Bộ Ngoại Giao thì những phụ tá cao cấp của ông Powell như Richard Armitage, Carl Ford Jr., Richard Hass và Lawrence Wilkerson đã thẳng thừng chỉ trích đường lối của chính quyền Bush bằng cách công khai hoá những quan điểm chống đối mà phe họ đã đưa ra trong những cuộc tranh luận nội bộ nhưng sau cùng đã bị bác bỏ bởi phe cánh Cheney – Rumsfeld. Chính ông Wilkerson, đổng lý văn phòng ở Bộ Ngoại Giao, là người đã chỉ trích đích danh cặp bài trùng này và cho rằng chính sách điều hành và ngoại giao của Hoa Kỳ đã bị giật dây bởi “bè đảng” này (a Cheney – Rumsfeld cabal). Một số viên chức khác sau thời gian phục vụ tại Iraq đã chứng kiến những sai lầm và khiếm khuyết nặng nề nên khi trở về đã không ngần ngại viết sách để tố cáo cho công luận biết, như Larry Diamond, tác giả cuốn “Chiến Thắng Hoang Phí” (Squandered Victory) hoặc David Phillips, tác giả cuốn “Để Thua Iraq” (Losing Iraq). Một số tướng lãnh hay các viên chức cao cấp của CIA cũng sẵn sàng thổ lộ tâm tư bực tức của mình trước những sai lầm to lớn, sau khi đã xin từ chức hay rời khỏi nhiệm sở, nổi bật nhất là cuộc nổi loạn của một số tướng lãnh tư lệnh hồi hưu khi cùng nhau ký tên yêu cầu ông tổng trưởng Rumsfeld phải nên từ chức.Nhưng đáng chú ý hơn hết là sự chống đối hay chỉ trích từ phía các chính trị gia chủ động của trường phái tân-bảo-thủ vì thành phần này thường được coi là linh hồn để khích động và hướng dẫn cho các chính sách và kế hoạch táo bạo của TT Bush. Các ông Perle, Adelman và những tên tuổi tân-bảo-thủ khác luôn luôn chủ trương rằng Hoa Kỳ phải sẵn sàng sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế của mình để đạt được những mục tiêu cao đẹp là thổi một luồn sóng tự do và dân chủ lên nhiều phần đất đối nghịch trên thế giới, bắt đầu từ Iraq của Saddam Hussein để từ đó làm đuốc soi đường cho các quốc gia lân cận. Ông Perle, từng làm chủ tịch hội đồng cố vấn Defense Policy Board ở Ngũ Giác Đài vào thời điểm năm 2003 thì cho rằng lỗi lầm là ở bộ máy điều hành của chính quyền Bush. Ông cho rằng mình chỉ chủ trương tấn công để lật đổ Saddam chứ không cổ động cho một chính sách chiếm đóng Iraq để rơi vào cảnh sa lầy như hiện nay. Ông Adelman, bạn thân của hai ông Cheney và Rumsfeld và cũng là thành viên của Defense Policy Board, thú nhận rằng ông đã sớm thất vọng ngay sau khi cuộc chiến nổ ra không lâu. Việc không tìm ra được các kho vũ khí tàn sát quy mô khiến ông thấy khó chịu và bối rối. Ông cũng bực mình không ít trước những lời phát biểu vô trách nhiệm kiểu “Stuff happens” (Ờ, thì chuyện đó thường xảy ra thôi) của ông Rumsfeld trước cảnh dân Iraq hôi của tại Baghdad. Và điều làm ông chịu hết nổi là việc TT Bush lại quyết định trao tặng huân chương cao quý Medal of Freedom cho các ông Paul Bremer, toàn quyền tại Iraq, Đại tướng Tommy Franks, tư lệnh vùng Central Command chỉ huy chiến dịch tấn công, và Tổng giám đốc CIA George Tenet. Theo ông Adelman thì những người này là ba nhân vật góp phần quan trọng trong cuộc thất bại tại Iraq. Do đó, ông cho rằng bộ tham mưu về an ninh quốc gia của TT Bush là một “nhóm bất tài nhất” trong vòng nửa thế kỷ qua. Tuy vậy, ông vẫn giữ im lặng vì nể tình bè bạn trung hậu nên không lên tiếng trước công luận. Nhưng trong chốn riêng tư, ông đã chỉ trích thẳng thừng, khiến cho ông Rumsfeld nổi giận, và yêu cầu ông từ chức khỏi hội đồng Defense Policy Board vào tháng 9 vừa qua. Đó là lý do chính khiến ông phải buộc lòng tiết lộ ra ngoài sự chống đối của ông. Tuy nhiên, ông Adelman có dũng khí và liêm sỉ hơn khi ông chấp nhận phần lỗi của mình: “Khi mình chủ trương một chính sách nào đó thì mình cũng phải chịu trách nhiệm nếu như cái chính sách đó trở thành thất bại.”Ngoài các chính trị gia đã biết tự đấm ngực nhận lỗi “mea culpa” (lỗi tại tôi) thì một số các nhà báo có uy tín cũng tự nhận là đã sai lầm khi ủng hộ chiến dịch tấn công Iraq trước đây, cho dù là với những lý tưởng không hoàn toàn giống với chủ trương và mục đích của chính quyền Bush.Đó là hành động của ban chủ biên tờ tạp chí The New Republic, một trong những tờ báo theo trường phái cấp tiến nhưng lại hoàn toàn ủng hộ theo khuynh hướng tân-bảo-thủ để cổ võ nồng nhiệt cho chính sách tấn công Iraq. Trong số báo phát hành đề ngày 27-11 mới đây với chủ đề dành cho Iraq, ban chủ biên đã viết một bài quan điểm nhận lỗi về sự sai lầm đã hỗ trợ cho cuộc chiến Iraq trước đây, đồng thời cũng làm một diễn đàn cho 14 chuyên gia thuộc nhiều khuynh hướng khác nhau như nhà báo, sử gia, chiến lược gia và cựu viên chức chính quyền góp ý và phân tích cho một lối thoát hiện nay. Trong bài bình luận chính, tờ báo này đưa ra một nhận xét khá cay đắng: tuy các chuyên gia không đồng thuận trong những giải pháp cho một tương lai tại Iraq, nhưng những kết luận của họ có thể được chia thành hai nhóm: đen tối, hoặc hắc ám hơn nữa (grim and grimmer). Tác giả bài bình luận phân tích tiếp. Cho dù có bàn thảo, hội họp, nghiên cứu đến mấy đi chăng nữa, thì cuối cùng mọi người cũng phải đi đến kết luận là hiện nay không có một chính sách nào cho Iraq để mong đạt được một sự hài lòng về mặt chiến lược hay đạo nghĩa, cũng như sẽ không có một lý do nào để tin rằng Hoa Kỳ sẽ đạt được một thành tích khả quan nào để có thể gọi là chiến thắng. Những cuộc tranh luận sắp tới về thời điểm rút quân, cũng như mức độ rút hay giảm quân v.v. . . chắc chắn sẽ ồn ào và khơi lại nhiều nỗi bực tức, oán giận và chỉ trích bè phái. Nhưng rồi cuối cùng thì cả hai bên cũng sẽ đưa ra những kết luận chẳng khác gì nhau: đó là một kết quả gần như chẳng thể chấp nhận nổi (largely intolerable) hoặc một kết quả hoàn toàn chẳng thể chấp nhận được (completely intolerable). Lối dùng chữ sâu sắc và thần sầu của các nhà báo Mỹ quả đáng khâm phục để học hỏi. Bài bình luận được kết thúc bằng một lời thú tội chân thành và một nhận xét tinh tế: “Chúng tôi (The New Republic) lấy làm hối tiếc sâu xa về quyết định ủng hộ cuộc chiến. Những diễn biến trong hơn ba năm qua đã làm rối loạn lý tưởng của chúng ta cũng như đã nhắc nhở rằng sức mạnh quân sự của Hoa Kỳ cũng như sự khôn ngoan của mình cũng có những giới hạn của nó.”Riêng về những ý kiến khác nhau của các chuyên gia đóng góp trong diễn đàn của tờ The New Republic lần này cũng khá rắc rối. Nhà báo George Packer của tờ New Yorker thì cho rằng cuộc chiến này đã thất bại và Hoa Kỳ nên chuẩn bị cấp chiếu khán đi Mỹ cho những thành phần dân Iraq đã cộng tác với chính quyền Mỹ trong thời gian qua để họ có thể di tản khi lính Mỹ rút quân, khiến chúng ta nhớ lại những cảnh tương tự như đã xảy ra tại Nam Vang và Sài Gòn hồi năm 1975. Richard Clarke, phụ tá cao cấp ở Bạch Cung đặc trách chống khủng bố trong hai nhiệm kỳ TT Clinton và Bush thì chủ trương thực hiện ngay một kế hoạch rút quân nhưng kéo dài tuần tự trong vòng 18 tháng. Nhà báo David Rieff thì thẳng thừng hơn nữa: “Tống ngay các toán lính lên máy bay hồi hương đi, trước khi có thêm một nạn nhân xấu số nào khác chết oan cho những sai lầm của những lãnh tụ cao ngạo của đất nước (Hoa Kỳ) này.” Nhà báo tân-bảo-thủ Robert Kagan thì vẫn nhất dạ trung thành với lý tưởng tiếp tục đi tới, khuyên cần nên tăng thêm quân để giúp ổn định tình hình an ninh có thể được tiếp tục sau này khi quân đội Mỹ bắt đầu rút lui. Peter Galbraith, cựu đại sứ Mỹ tại Croatia, thì đề nghị phân chia Iraq thành 3 tiểu quốc riêng biệt là Shiite, Sunni và Kurd để tránh cảnh xâu xé. Reza Aslan, phân tích gia của đài CBS News, thì lại phản đối kế hoạch chia ba đất nước này, cho đó là một thảm hoạ. Giáo sư Anne Marie Slaughter, khoa trưởng của trường đại học ở Princeton thì khuyên rằng Hoa Kỳ cần phải đưa ra lời hăm doạ là sẽ rút quân ngay để cho mọi thành phần tại Iraq sẽ phải hốt hoảng và nhanh chóng ngồi lại với nhau để đi đến một thoả hiệp chung. Đó cũng là quan điểm của nhà báo Peter Beinart. Còn Josef Joffe, một giáo sư về chính trị học tại trường Đại học Stanford, thì tin rằng Hoa Kỳ nên tìm cách thoả hiệp với phe Sunni, tương tự như ý kiến của Larry Diamond, một cựu viên chức chính quyền đã từng phục vụ tại Iraq. Ngược lại, giáo sư James Kurth của trường Đại học Swarthmore thì đề nghị Hoa Kỳ cần phải diệt tan cho bằng được nhóm phiến quân Sunni trước khi rút khỏi Iraq. Sử gia Niall Ferguson thì khuyên là nên dùng tiền để mua chuộc các nhóm phiến quân. Và nhà báo Leon Wieseltier của tờ New Republic thì cho rằng việc rút quân là một điều hợp lý nhưng rồi lại khuyên nên tiếp tục có những cố gắng thêm nữa. Đọc đến đây, có lẽ nhiều người sẽ phát ngôn lên rằng “Ồ, rắc rối điên cái đầu.” Càng bàn luận thì càng sinh chuyện nát bét hơn nữa, giống như tên của một hội các anh Mít già thường hay tụ họp ở dưới phố Houston để tán gẫu về đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, và lấy tên là hội Nát Bàn (càng bàn thì càng thêm nát chuyện.) Điều khác biệt là những nhân vật bình luận hay góp ý kể trên cũng có ít hay nhiều ảnh hưởng và uy tín để có thể ảnh hưởng lên các chính sách chung cuộc. Nhưng có lẽ các chuyên gia của Nhóm Nghiên Cứu Iraq (Iraq Study Group, ISG) do hai ông James Baker III và Lee Hamilton đồng chủ toạ cũng đang rơi vào một tình trạng tương tự. Có điều là họ không chỉ phỏng vấn lấy ý kiến của 14 chuyên gia mà có lẽ là cả trăm người khác nhau để từ đó mới mong tìm ra một ý kiến đồng thuận. Bởi vì thực tế cho thấy là hiện nay không ai dám bảo đảm là đề nghị hay kế hoạch của mình là khả quan, tốt đẹp hay hứa hẹn một tương lai sáng sủa cả. Giống như ban chủ biên của tờ The New Republic đã nhận định một cách cay nghiệt là những kết quả để thẩm định cho một tương lai về Iraq chỉ tóm gọn trong hai nhóm: đen tối (grim) hay hắc ám hơn nữa (grimmer); hiện nay không còn một người nào có thể thẳng thắn tin rằng Hoa Kỳ sẽ tìm được một lối thoát vinh quang từ bãi sa lầy ở Iraq. Tất cả những giải pháp đề ra hay sẽ được áp dụng đều phải trả bằng một cái giá nào đó. Chuyện tranh luận ở đây là ấn định ở cái giá nào phải trả, cũng như cố gắng đi tìm sự đồng thuận tối đa để tránh tiếp tục chia rẽ trong nội bộ vì người dân Hoa Kỳ vốn có tinh thần khoan dung, sẵn sàng bỏ qua những lỗi lầm trong quá khứ để học hỏi kinh nghiệm và cùng nhau đoàn kết trong nỗ lực cho quyền lợi chung.Chính ngay cả Thủ tướng Tony Blair của Anh Quốc, một đồng minh chí cốt của Hoa Kỳ, và đã phải “lãnh đạn dùm” cho việc làm của ông Bush khiến cho uy tín của ông bị sút giảm nặng nề ngay trong đất nước mình, mới đây cũng đã phải thú nhận rằng Iraq là một “thảm hoạ” (disaster), trong một cuộc phỏng vấn đặc biệt với phóng viên kỳ cựu Sir David Frost trên đài truyền hình Ả Rập Al-Jazeera. Lời nhận xét của Thủ tướng Anh được đưa ra chỉ sau vài giờ một nhận xét khác của một viên chức cao cấp khác của Anh, bà Margaret Hodge, tổng trưởng kỹ nghệ và mậu dịch, khi nói rằng Iraq là một lầm lẫn lớn của Thủ tướng Blair về mặt ngoại giao. Ông cố vấn tối cao Henry Kissinger cũng phải công nhận rằng cuộc chiến Iraq này không thể nào thắng được nữa.Dù gì đi nữa thì TT Bush cũng là người quyết định sau cùng. Cho dù Uỷ Ban ISG có đưa ra những lời đúc kết cẩn thận và tỉ mỉ, hay cuộc họp thượng đỉnh với Thủ tướng Nouri al-Maliki của Iraq tại Ammam mới đây cũng như việc ông Bush sẽ tham khảo với nhiều giới chức hay chuyên gia nào khác, thì cuối cùng cũng chỉ có TT Bush là người quyết định. Liệu ông có chịu thay đổi quan điểm cứng rắn, hay không chịu nhìn nhận thực tế tệ hại và cứ luôn miệng hô hào những lời rao rỗng tuếch? Để từ đó có can đảm nhìn nhận một lỗi lầm tệ hại và quyết tâm sửa đổi để cầu mong hàn gắn một phần nào những tai hại nặng nề đã qua? Hay là ông cứ vẫn tiếp tục đi tới, lầm lì giống như Phó Tổng thống Cheney đã từng phát biểu là Hoa Kỳ sẽ tiến mạnh như thường (full speed ahead) cho dù kết quả bầu cử có ra sao đi nữa? Nhưng đi về đâu? Có lẽ các ông ấy cũng không biết rõ.Cuộc chiến Iraq là do bộ ba Bush – Cheney – Rumsfeld chủ động với sự lèo lái và cổ động của các tay tân-bảo-thủ. Chính họ đã đẩy đưa Hoa Kỳ và Iraq rơi vào trong cái thế khó khăn ngày nay. Việc họ không còn có một giải pháp (option) khả quan nào khác là do lỗi ở họ tạo nên. Chính họ đã gây ra cái khó khăn ngày nay và không có một giải pháp nào giúp cho Hoa Kỳ thoát khỏi vũng lầy mà không phải trả một cái giá khá đắt. Và chính họ có lẽ sẽ phải chịu trách nhiệm về những hệ quả tai hại cho những gì sẽ xảy ra trong thời gian tới. Nguyễn Anh TuấnHouston, Texas

CHUYỆN CỦA TỔNG THỐNG BUSH: TỪ APEC ĐẾN IRAQ
Trương Sĩ Lương, Dec 05, 2006 Cali Today News -
Sau hội nghị APEC tại Hà Nội, có lẽ chưa bao giờ người Việt hải ngoại — những người quan tâm tới hiện tình đất nước Việt Nam — cảm thấy chán ngán trò trở mặt, phản bội của ông Bush và đảng Cộng Hòa như bây giờ. Rất nhiều độc giả, đủ thành phần trong xã hội, đã tiếp xúc với chúng tôi qua điện thoại, qua internet, bày tỏ những bất mãn về chuyến đi tham dự hội nghị APEC của phái đoàn Hoa Kỳ tại Hà Nội. Có nhiều người tức bực đến nỗi phải thốt lên tiếng chửi thề mà vẫn chưa hả giận. “Ông biết không, trước khi phái đoàn của ông Bush đi Hà Nội phó hội APEC, nhiều hội đoàn, đoàn thể của chúng ta trên đất Mỹ đã vận động Dân biểu, Nghị sĩ, khăn gói tới tận Bạch Ốc để nhắc nhở Tổng thống Bush rằng khi đến Việt Nam đừng quên đặt vấn đề dân chủ nhân quyền với tập đoàn lãnh đạo Cộng sản Hà Nội; đừng quên lên tiếng cho những người đang bị cầm tù vì khác biệt chính kiến. Thế rồi, qua tới Hà Nội không hề nghe Bush nói năng gì cả. Trái lại còn có vẻ hài lòng với chế độ sắt máu CSVN, chỉ nghe Bush bàn về kinh tế, ngoại giao, an ninh lãnh thổ trong vùng ĐNÁ. Rõ ràng là Bush đã lờ đi tất cả! Chao ôi, ngao ngán!”Thậm chí trước ngày ông Bush lên đường 6-11-2006 Cộng đồng NVQG tại Dallas-Fort Worth cũng đã xông pha đến tận cầu trường to lớn Reunion Arena — nơi ông xuất hiện vận động cho Thống Đốc Texas, Rick Perry — để trao thỉnh nguyện nhờ ông can thiệp cho những anh hùng đang đấu tranh cho tự do dân chủ ở trong nước. Khó khăn lắm người đại diện cộng đồng mới trao được thư đến tận tay ông. Thế nhưng, có lẽ những lá thư như vạn tiếng kêu gào thống thiết ấy đã vô sọt rác!Một trong những đồng nghiệp của chúng tôi là nhà báo Nguyễn Dương, chủ bút nhật báo Cali Today, đã tâm sự một cách đau đớn khi đúc kết tình hình hội nghị APEC: “Ông bạn già ơi! Trò chơi phản bội này không phải là lần thứ nhất! Thế mà chúng ta cứ tin tưởng rồi nhắm mắt ủng hộ ông Bush và đảng Cộng Hòa để rồi hậu quả là chúng ta lãnh trọn sự phản bội trắng trợn một cách đau đớn, ê chề”!Chúng tôi an ủi nhau: “Tưởng giếng sâu ta nối sợi dây dài, ai ngờ giếng cạn nên tiếc hoài sợi dây”. Thôi, xin đừng đau, đừng tiếc sợi dây ấy. Giếng cạn hay giếng sâu cũng thế thôi! Bài học trước năm 1975 chúng ta vẫn chưa thuộc. Có tình hữu nghị Việt-Mỹ nào khắng khít trước năm 1975 như thời TT Nixon và TT Nguyễn Văn Thiệu. Người bạn đồng minh của chúng ta hứa hẹn sẽ can thiệp ngay tức khắc, nếu Cộng sản Bắc Việt và Việt Cộng (Mặt trận Giải phóng Miền Nam) vi phạm hiệp định đình chiến Paris. Thế rồi Việt Cộng vi phạm đình chiến dài dài cho đến khi miền Nam bị cộng quân ồ ạt tấn công hết tỉnh này đến tỉnh khác, vẫn không hề thấy người bạn đồng minh yểm trợ vũ khí và B-52 như đã hứa hẹn. Sau này khi hồ sơ mật được giải mã thì người ta mới trắng mắt là tay lái buôn Kissinger đã bán đứng miền Nam Việt Nam cho Cộng sản Bắc Việt từ năm 1973 rồi.Sau bài học đau điếng như bị bò đá này, chúng ta cần thay đổi chiến lược. Ba mươi mốt năm qua rồi, những ngày chân ướt chân ráo đến xứ này cũng đã đi qua. Bài học “chỉ ủng hộ đảng Cộng Hòa” của chúng ta đã sai bét. Rõ ràng không phải chỉ có đảng Cộng Hòa mới chống cộng, và cũng không phải đảng Dân Chủ là thiên tả, là thân cộng. Chúng ta hãy nhìn vào thực tế, đó là biết sử dụng lá phiếu trong thế đứng chính trị tại chính trường Hoa Kỳ. Thế đứng như thế nào thì chính những người hoạt động chính trị tại bản xứ phải biết rõ hơn ai cả. Chúng tôi thiển nghĩ, chính những tổ chức cộng đồng (mặt nổi) khắp hải ngoại có lẽ là môi trường sinh hoạt hữu hiệu và dễ dàng nhất trong công tác ngoại vận và gây ảnh hưởng tới chính sách của Hoa Kỳ. Thế nhưng một điều cần nhắc nhở là chúng ta làm cách nào đó, đoàn kết thành một khối để gióng lên tiếng nói chung. Nhiều “Chief” và không ai chịu làm “Indian”! Xin đừng như thế!Tóm lại, chúng ta chỉ trách phận, trách thân... chứ nào trách ai được! Ông Bush chỉ thi hành quyền lợi kinh tế, quyền lợi quân sự của nước Mỹ. Thà rằng 80 triệu dân Việt tiếp tục sống dưới chế độ hà khắc của đảng CSVN để đổi lại tập đoàn CSVN dễ nghe dễ bảo, an ninh, an toàn trong thế chiến lược toàn cầu, vẫn còn hơn là một chế độ dân chủ tự do trong một nước bất ổn triền miên như Iraq. Vì vậy dân chủ tự do đối với dân tộc Việt chỉ là bánh vẽ không hơn không kém. Hành vi rút tên CSVN ra khỏi danh sách CPC (tức là những quốc gia cần quan tâm đặc biệt vì vấn đề đàn áp tôn giáo) là chửi thẳng vào bộ mặt nhân đạo giả dối của Hoa Kỳ. Thì ra, người Mỹ cứ giả đò không thèm biết, là ngậm miệng ăn tiền. Chỉ tội nghiệp cho những nhà đấu tranh tôn giáo và dân chủ tại Việt Nam đang cảm thấy thất vọng hơn bao giờ hết. Chính Hòa Thượng Thích Quảng Độ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã phải tố cáo rằng chính phủ Mỹ đã phản bội khi đưa CSVN ra khỏi danh sách CPC.Đối với CSVN, quả thật họ đã có quá nhiều cơ hội để làm lịch sử, lưu lại tiếng thơm đời đời cho con cháu, nếu họ chịu xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ hóa chế độ, thương dân, thương nòi giống khi thống nhất đất nước như thời vua Quang Trung, xóa bỏ hai chế độ Trịnh Nguyễn phân tranh. Thế nhưng vì lòng dạ đầy vị kỷ, có máu rừng rú, như người rừng vừa từ giã sơn lâm để về với đồng bằng, hay còn gọi là hóa nhân, nhưng bản chất hung bạo của họ vẫn còn, vẫn thèm thịt tươi, vẫn có thể ăn luôn đồng loại khi cần; căn nghiệp của họ vốn quá nặng nề, phi nhân phi thú nên lòng tham đã đè bẹp trí óc, làm gì có đạo đức, làm gì có luân lý của con người. Từ đó nảy sinh đầy dẫy bất công, mánh mung, theo kiểu duy vật biện chứng... thử hỏi làm sao tạo được một xã hội lành mạnh, giàu có công bằng như xã hội ở các quốc gia văn minh ngày nay? Âu cũng là số kiếp của dân tộc Việt Nam vậy!ÔNG BUSH VÀ GIẢI PHÁP NÀO CHO IRAQ?Nếu nói cuộc chiến thắng tại A Phú Hãn lật đổ chế độ Taliban và việc phá tan sào huyệt tổ chức khủng bố đã làm cho uy thế của TT Bush lên cao bao nhiêu, thì trái lại, cuộc chiến Iraq đã làm cho uy tín của ông rớt thê thảm bấy nhiêu. Cũng vì chiến trường này mà ông Bush “đội sổ” trong lịch sử nhiệm kỳ II của ghế Tổng thống Hoa Kỳ; cũng vì chiến trường Iraq mà lưỡng viện Quốc Hội Mỹ đều lọt vào tay đảng Dân Chủ; cũng vì chiến trường Iraq mà nhiều vị Dân biểu, Nghị sĩ Cộng Hòa bị vạ lây (thất cử) trong cuộc bầu cử tháng 11 vừa qua.Cho đến bây giờ thì chính giới Mỹ, thuộc cả hai khối bảo thủ và ôn hòa, đều thấy chiến lược tiến chiếm Iraq và lật đổ nhà độc tài Saddam Hussein là một nhầm lẫn. Thế nhưng giới tài phiệt và bảo thủ hạng nặng thì cho rằng họ không sai lầm, mà chỉ vì quá say men chiến thắng trong trận đánh chiếm thủ đô Baghdad mau lẹ trong 30 ngày, nên ê-kíp của hành pháp Bush đã không tiên liệu được thế tiêu diệt đám tàn quân của Saddam Hussein và sự xâm nhập bất ngờ của đám khủng bố Al Qaeda vào Iraq qua hai ngã biên giới Iran và Syria mà thôi. Những vụ xâm nhập phá hoại, ôm bom người, bom xe, đặt mìn, gây mẫu thuẫn giữa hai giáo phái Shiite và Sunni v.v... đã làm cho chiến trường Iraq ngày càng trở nên ghê sợ, khủng khiếp cho người dân Iraq, đến nỗi nhiều người đã phải thốt nên lời: “Thà sống dưới chế độ độc tài sắt máu của Saddam Hussein còn hơn là sống trong địa ngục của bom đạn ngày nay”.Như vậy tại sao chính phủ Bush nhất định không thể thay đổi chiến lược, mà chỉ thay đổi chiến thuật dù đã bị áp lực từ nhiều phía, nhất là các đối thủ của đảng Dân Chủ? Xin được trả lời: vì Hoa Kỳ không thể để mất Iraq vào tay bọn khủng bố hay vào tay Iran và Syria được. Thứ nhất, mất Iraq, quốc gia này không chóng thì chầy sẽ trở thành thù nghịch với Hoa Kỳ, tức là mất cả chì lẫn chài. Hàng tỷ tỷ dollars và máu thịt của mấy ngàn sinh mạng quân nhân Mỹ đã đổ vào Iraq coi như dã tràng xây cát biển Ba Tư. Thứ hai, mất Iraq là mất hai “cánh đồng dầu hỏa” mà Mỹ và Anh đã đổ máu xương để giành quyền lợi trong tay Nga, Tàu, Pháp. Thứ ba, nếu để mất Iraq, Mỹ sẽ mất hết thế đứng ở Trung Đông và khối Ả-rập, mặt khác, tạo cơ hội lớn cho Iran trở thành cường quốc nguyên tử, đe dọa sự sống còn của Do Thái. Và như vậy cái nguy của một cuộc chiến nguyên tử sẽ xảy ra khi quốc gia nhỏ bé Do Thái không còn con đường nào khác để chọn, mà chỉ còn cách châm ngòi vũ khí nguyên tử để triệt hạ kẻ thù Iran.Vì những lý do trên mà TT Bush (đảng Cộng Hòa) hay bất cứ một Tổng thống nào của đảng Dân Chủ nào trong tương lai cũng vẫn phải giữ Iraq cho tới cùng. Tức là phải đạt mục tiêu, giúp chế độ dân chủ mới mẻ của Iraq tồn tại, quân đội Iraq phải gấp rút làm chủ chiến trường, ổn định quốc gia họ để Mỹ có thể rút hết quân ra khỏi Iraq trong năm tới. Dĩ nhiên một số cố vấn Mỹ sẽ ở lại để giúp quân đội Iraq trưởng thành trong thế đồng minh chiến lược lâu dài nhằm đối đầu với Iran và Syria, hai quốc gia đang được Trung Cộng và Nga ngầm yểm trợ vũ khí.Có lẽ đó là lý do mà Cố vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng thống Bush, ông Stephen Hadley vừa tuyên bố rất rõ ràng: “We have not failed in Iraq, but we will fail in Iraq if we pull out our troops before we're in position to help the Iraqis succeed”. (Chúng ta không thua trận tại Iraq, mà chỉ thua khi rút quân trước khi chúng ta có thể giúp dân Iraq chiến thắng).Sau cuộc bầu cử 7-11-2006, Đại tướng Abizaid — Tư lệnh lực lượng Hoa Kỳ tại Trung Đông — cũng đã khuyến cáo giới chính trị rằng: “Quân đội Mỹ sẽ phải dẹp tan phiến quân và quân khủng bố, nếu không, thế chiến thứ ba sẽ xảy ra một khi Iran có đủ sức mạnh quân sự để khống chế khối Ả-rập và Trung Đông”. Tướng Abizaid cũng bác bỏ việc rút quân cấp tốc và có thời hạn. Đồng thời chỉ trích giới truyền đã thông tin có tính cách chủ bại làm hao mòn ý chí của người dân Mỹ trong trận chiến Iraq.Thật ra, giới tình báo và quân báo của Mỹ đều biết đa số phiến quân ngoại nhập và Al Qaeda đều được cả hai nước Syria và Iran ngầm giúp huấn luyện rồi đưa qua biến giới, xâm nhập ồ ạt vào lãnh thổ Iraq dễ dàng vì biên giới quá rộng quá dài. Giới bình luận thời sự cho rằng, tất cả các thế lực đang có trách nhiệm đối với cuộc chiến Iraq sẽ cùng Tổng thống Bush tìm ra một giải pháp ổn thỏa để giải quyết chiến trường Iraq bằng cách nhanh chóng “Iraq hóa chiến tranh” và rút quân từ từ ra khỏi vùng máu lửa mà không cần phải tuyên bố thời hạn triệt thoái. Cũng không cần phải kêu nhờ tới Liên Hiệp Quốc triệu tập hội nghị quốc tế để giúp ổn định Iraq, mà chỉ cần áp lực Iran và Syria thôi nhúng tay vào phá hoại là xong ngay.Iraq là chiến trường mà đảng Dân Chủ của Hoa Kỳ đã khai thác tối đa để giành chiến thắng vào cuộc bầu cử vào tháng 11 vừa qua. Nhưng rồi, xoay đi xoay lại, đảng Dân Chủ cũng không có chiến lược nào khác để thay thế việc mà hành pháp Bush đang làm, tức là “Iraq hóa chiến tranh” và rút quân từ từ ra khỏi vùng máu lửa Iraq, nhưng chắc chắn sẽ không tháo chạy và vứt bỏ tất cả như trong những ngày cuối cuộc chiến Việt Nam năm 1975.LỜI KẾT:Suy nghĩ thật kỹ mới thấy khó mà trách được Tổng Thống Bush trong vụ APEC! Vì người dân Việt có sống chết, hoặc bị đọa đày trong địa ngục trần gian đi nữa thì có liên hệ huyết thống gì tới ông Bush mà chúng ta trách móc, tức tối. Đối với chúng ta, sống là phải lạc quan, cho dù CSVN là thứ ba đầu sáu tay, là những chuyên gia lừa bịp có bằng cấp, bóc lột dân đen thẳng tay mà ông Trời còn phải sợ! Thế nhưng đã đến giai đoạn mà người dân Việt không thể tiếp tục bị lừa bịp được nữa, vì ngày nay mạng thông tin toàn cầu đã nằm gọn trong lòng bàn tay của con người. Đất nước sẽ biến chuyển nếu người dân trong nước ý thức bổn phận công dân, quyết tâm đứng lên tranh đấu cho quyền tự do nhân bản như bao nhiều dân tộc văn minh khác trên thế giới đang tận hưởng. Đất nước và dân tộc không phải của riêng ai. Tập đoàn CSVN không thể ngự trị mãi mãi được. Đã đến lúc mà mọi người dân cần phải đứng dậy để đi làm lịch sử, cởi bỏ xích xiềng, dựng lại một xã hội đã bị tha hóa hơn nửa thế kỷ qua, gióng lên tiếng nói thật sự của lương tâm con người vì không còn “sợ” Cộng sản nữa!Đó chính là quan điểm đã được Hòa thượng Thích Quảng Độ, vị lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất nêu lên khi trả lời cuộc phỏng vấn của Đài Á Châu Tự Do về việc Hoa Kỳ rút tên Cộng sản Việt Nam ra khỏi danh sách CPC:“Người Tây phương có câu nói rằng: Trời giúp những người nào biết cách tự giúp mình (...) Trong thế giới tương duyên, tương quan này, có liên hệ chặt chẽ với nhau, người ta giúp được cái gì mình quý cái đó. Nhưng không hoàn toàn tin tưởng, ỷ lại vào người ta. Mình không thể trao vận mệnh mình vào trong tay ai hết, mà mình phải nắm lấy vận mệnh của mình.“Nhân đây tôi cũng xin đề nghị với các đảng phái, các tổ chức mới thành lập gần đây, như Công đoàn Độc lập Việt Nam, Hiệp hội Đoàn kết Công Nông, rồi Liên Minh Dân chủ Nhân quyền Việt Nam, Đảng Dân chủ XXI... Tất cả các vị đó đều mong muốn đất nước Việt Nam một ngày nào đó được dân chủ, tự do và nhân quyền được tôn trọng. Thì bây giờ đây các vị đã hướng tới cái đích đó, là đích cao cả, thì mình phải tự cứu mình. Còn ai giúp được bên ngoài coi là cái phụ thôi. Cái tự cứu mình là cái chính. Tôi kêu gọi tất cả các đoàn thể chính trị, tổ chức công nông... kết hợp lại thành một khối cho thật mạnh. Đoàn kết lại với nhau, bỏ hết các tị hiềm, nghi kị đi. Ngồi lại với nhau thật sự một lòng, để tạo thành một sức mạnh, một đối trọng để nói thẳng, đặt thẳng vấn đề với người Cộng sản Việt Nam: Các anh phải trả lại cái Quyền làm Người cho toàn thể dân tộc 80 triệu dân đây! Không thể nô lệ hóa cái dân tộc này mãi mãi được! Anh đã nô lệ hóa nó 60 năm rồi. Bây giờ đến lúc các anh phải trả lại”.Chúng tôi xin mượn tiếp lời Hòa thượng Thích Quảng Độ để kết luận bài viết này: “Như vậy người Mỹ giúp cũng được, không giúp cũng được. Ai giúp thì cảm ơn. Không giúp thì mình phải tự bảo vệ mình. Mà mình giúp mình thì người ta mới giúp mình. Chứ mình cứ ngồi đó mà há miệng chờ cho sung rụng vào miệng, là không có. Mình phải thực hiện. Mình phải hành động. Mà hành động có kết quả nhất là phải biết đoàn kết với nhau. Các vị phải thúc đẩy toàn dân. Đã đến lúc rồi, mình phải tỏ ra hành động cụ thể. Chẳng hạn đình công, chẳng hạn như bãi thị, bất tuân lệnh... Đấy, có những cái đó rồi người Cộng sản mới thấy được cái sức mạnh của nhân dân như thế, họ mới chịu nói chuyện. Chứ còn đòi suông, như kiểu làm chính trị xa-lông, xôi thịt, thì không bao giờ có tự do, dân chủ đâu. Mình phải tự làm lấy, mình phải nắm lấy vận mệnh của mình để thay đổi thời đại, thay đổi cuộc sống. Tự mình làm lấy, rồi họ giúp được là cái tốt. Không giúp mình cũng phải lo lấy hết”.

Trương Sĩ Lương